Dòng sông định mạng

Mời các bạn đọc truyện dòng sông định mạng truyện được cập nhật tại chuyên mục truyện ngắn hay của truyen18.com.

Dong song dinh mang truyen ngan

Dòng sông định mạng truyện ngắn

Phi lộ: Sau đây là phần trích lại một phần từ quyển sách biên khảo về Tiếng Việt Đa Dạng của GS Nguyễn Hữu Phước.  Sách dầy hơn 300 trang.  VHLA.

Sông trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt có nhiều từ để chỉ dòng nước chảy giữa đôi bờ từ nguồn, nhập vào một dòng nước lớn hơn, hoặc chảy đến vào một hồ nước to lớn, hoặc chảy ra biển:”hà”, “giang”, “rạch”,”suối”, “kinh” và “sông”.  Sông là tiếng Việt thuần, còn hai từ hà và giang là từ Hán Việt (HV), được dùng nhiều và trở nên thông dụng.

Ông Lê Văn Đức (3) và Đào Duy Anh (1) cho ta những từ và nghĩa liên quan đến “hà, giang và sông. ”

Tiếng HV, hà có nhiều nghĩa. Một trong những nghĩa đó là “sông rạch”.
Trên trời, chúng ta có Sông Ngân hay Ngân Hà: sông màu bạc chỉ dải mây trên trời giống hình dòng sông.  Có màu bạc nhờ ánh sáng của những vì sao. Ca dao có câu:

Đêm đêm tưởng giải ngân hà
Chuôi sao tinh đẩu đã ba năm tròn.

Theo truyền thuyết, đây là dòng sông chia cách Chức Nữ,Ngưu Lang. Tục truyền rằng sao Chức Nữ là Thiên Tôn Nữõ được gã cho Khiêu Ngưu, một vì sao khác. Hai sao nầy mỗi năm, chỉ có một lần, vào ngày mồng 7 tháng bảy âm lịch, nhờ chim khách bắc cầu để qua sông Ngân và gặp nhau:

Xưa kia ai biết ai đâu
Bởi chim ô Thước bắc cầu qua sông.

Ngày nầy trong lịch Á Đông còn gọi là ngày thất tịch.
Sông Ngân Hà (dùng theo thói quen) dùng nghĩa bóng, để chỉ sự cách trở của những kẻ yêu nhau mà không được gặp nhau.
Kế đến, từ “sơn hà” hay “núi sông” dùng chung như danh từ ghép, chỉ đất nước, quốc gia.  Ca dao có câu:

Ghé vai gánh đỡ sơn hà,
Sao cho rõ mặt mới là trượng phu.

Nhưng khi muốm chỉ núi non và sông rạch như một yếu tố thiên nhiên mà thôi, người ta dùng từ “sơn xuyên”.

Ở miền Bắc Việt Nam (VN) chúng ta có Sông Hồng hay Hồng Hà. Đôi khi, từ đôi nầy được dùng theo thói quen là “sông Hồng Hà”. Rồi chúng ta có “hà biên” hay “hà ngạn” là bờ sông; “hà công”: công trình hay việc làm liên hệ đến sông rạch;  “hà châu”: bãi sông; “hà đê”: bờ đất đấp theo ven sông để chận lũ lụt; ” hà hệ” và hà lãnh : hệ thống sông ngòi và lãnh vực đất đai trong hệ thống đó;  “hà khẩu”: tức cửa sông hay nơi sông chảy ra biển (còn gọi là cửa biển); “hà vận” : sự chuyên chở trên sông (như không vận là chuyên chở bằng phi cơ và lộ vận là chuyên chở bằng đường bộ).

Tất cả những từtrong ngoặc kép, vừa kể ít thấy dùng trong văn chương. Riêng từ”Hà Bá” là thần sông thì rất nhiều người biết.  Họ biết không phải vì sợ thần sông, nhưng biết nhiều vì “hà bá” là một tiếng mắng (chửi)hay được dùng đến. Có lẽ hai từ Ngân Hà và hà bá làthông dụng nhất trong văn nói cũng như văn viết.

Câu tục ngữ”Nhứt phá sơn lâm, nhì đâm Hà Bá” dùng để chỉ hai nghề mà người ta cho là hậu vận không khá.  Đó là nghề đốn cây rừng và nghề đánh cá.

Trong động vật có con “hà mã”. Nó không phải “ngựa nước” mà là “trâu nước”, rất to lớn. Trên những dòng sông lớn ở Nam Mỹ và Phi Châu có nhiều hà mã cư trú.  Chúng to lớn, da dầy và nặng hơn trâu VN rất nhiều. Thoạt trông thì chúng có vẻ rất hiền. Nhưng khi chúng tấn công những ghe thuyền nhỏ đi gần chúng (mà không biết) thì những người trên thuyềân khó thoát chết.

Giang

Giang cũng có nhiều nghĩa. Ở đây chúng ta chỉ chú trọng đến nghĩa sông mà thôi.  Cả hai quyển: Hán Việt Tự Điển (1), và Việt Nam Tự Điển (3) đều ghi: Giang là sông lớn. Miền Trung Việt Nam có Hương Giang, miền Nam, có Tiền Giang và Hậu Giang là những tên sông quen thuộc của dân ta. Về phương diện lịch sử thì Bạch Đằng Giang, Lô Giang, Sông Gianh, Sông Bến Hải, mỗi sông đã đánh dấu một sự kiện đặc biệt trong tiến trình của dân tộc ta.
Liên hệ đến từ giang, chúng ta có “giang sơn” hay “sông núi” để chỉ địa hình địa vật của một nước, và của quốc gia.  “Giang sơn cẩm tú” chỉ đất nước đẹp đẽ như gấm vóc, lụa là. Tôn Thọ Tường khi than vãn về số phận của VN có viết:

Giang sơn ba tỉnh hãy còn đây
Non nước vì ai đến nổi nầy.

Ngoài ra giang sơn cũng còn có nghĩa là nhà cửa, sự nghiệp. Ca dao có câu:

Lấy chồng phải gánh giang sơn nhà chồng.

Cũng thời dùng danh từ “sơn” cho núi, khi đi đôi với “hà” thì sơn đứng trước, nhưng khi đi với “giang” thì sơn đứng sau. Sao lại có chuyện nầy thì xin để các nhà ngữ học giải thích.
Khi dùng giang và hà như một từ ghép, “giang hà” chỉ chung sông rạch hoặc các đường nước.  Ca dao có câu:

“Cái sông giang hà chỗ cạn chỗ sâu” (3)

Gửi bình luận